Bài Đăng mới nhất

Hiển thị các bài đăng có nhãn Quê hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quê hương. Hiển thị tất cả bài đăng

Tháp Bánh Ít: Đẹp kỳ vĩ kiến trúc Chăm pa cổ



Tháp Bánh Ít còn có tên gọi là tháp Bạc còn trong tiếng J'rai là YANG MTIAN là một cụm các tháp cổ Chăm Pa, hiện nay nằm trên một ngọn đồi tại thôn Đại Lộc, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Kiến trúc tháp thuộc phong cách chuyển tiếp từ phong cách Mỹ Sơn A1 sang phong cách Bình Định.

Hiện ở cụm tháp Bánh Ít có tháp chính, tháp mái và tháp cổng. Đường lên cụm tháp ở phía đông mà bắt đầu là tháp cổng, đằng sau tháp cổng là các tầng, các lớp những phế tích đổ nát, chếch về hướng đông - nam có một tháp gạch lớn như tháp cổng. Tháp cổng và tháp đông - nam này là hai kiến trúc hiện còn ở vòng ngoài hay tầng ngoài cùng của khu tháp Bánh Ít

Ngay đằng sau tháp cổng, trên nền tầng thứ nhất hiện còn dấu tích của một tòa nhà chạy dọc theo hướng đông - tây và đối diện với ngọn tháp chính bên trên

Sau tòa nhà dài là một lối tam cấp rất dốc dẫn lên tầng kiến trúc bên trên và tới một con đường đi thẳng tới ngôi tháp chính, hiện nay ở tầng trên cùng của quả đồi chỉ còn lại hai kiến trúc gạch đó là tháp thờ trung tâm và tòa tháp mái cong hình yên ngựa ở phía nam. Bao quanh khu kiến trúc trên cùng này là một vòng đai đường mà giờ chỉ còn lại dấu tích của những ổ gạch

Kiến trúc:


Nếu đem từng kiến trúc ra để so sánh thì từng ngôi tháp của Bánh Ít không phải là lớn, nhưng tháp Bánh Ít không phải chỉ từng ngôi tháp mà còn là các lớp kiến trúc, là cả quả đồi tự nhiên cao 75 mét, vì thế tuy từng kiến trúc không lớn lắm nhưng tổng thể kiến trúc Bánh Ít khá đồ sộ và hùng vĩ.

Ngôi tháp chính có vẻ đường bệ và hoành tráng của các kiến trúc: các cột ốp, các đường gồ nhô ra dọc các mặt tường, các của vòm và của giả hình mũi lao nhọn đồ sộ, có những nét thanh tú của đường nét, những nét hoa là trên các diềm mái, những cảnh ca múa trên các mặt vòm các cửa giả làm cả khối kiến trúc như đang tiếp xúc với người xem.

Sang ngôi tháp mái cong hình yên ngựa ở phía nam tháp chính, gồm những hình người, hình thú, hình chim ở dưới chân tháp đang ưỡn người, khuỳnh chân, dùng hai tay như nâng bổng cả tòa tháp lên, mái tháp cong hình yên ngựa như xoè cánh bay, trên mặt tường của kiến trúc, các nghệ sĩ Chăm xưa đã tô điểm bằng những băng, những ô hình hoa lá.

Xuống tầng kiến trúc phía dưới, tháp cổng có hình dáng và cấu trúc giống như tháp chính, nhưng nhỏ hơn, ít các chi tiết trang trí hơn, còn ngôi tháp đông - nam có những hình quả bầu lọ trên các tầng với các khối cong nhịp nhàng đã che khuất và làm mềm đi những đường nét và hình khối kỷ hà cứng cỏi, khô khan và nhờ vậy tòa kiến trúc dịu hơn, có nhịp điệu hơn.

Mặc dù mỗi kiến trúc ở Bánh Ít có một dáng vẻ riêng, nhưng tất cả chúng đều có những nét chung, đặc trung cho cả quần thể, đó là sự thắng thế của tính hoành tráng và ngôn ngữ của khối lớn

Lịch sử:

Tháp được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 11, đầu thế kỷ 12, trong giai đoạn phong cách chuyển tiếp từ phong cách Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định.

Share:

Cuộc đời, phong cách và sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu


Xuân Diệu không chỉ là một nhà thơ lớn mà còn là một tác giả đa tài trong lĩnh vực văn học góp phần làm sôi động và đem đến sức sống mới cho thơ ca đương đại. Dưới đây là bài viết về Cuộc đời, phong cách và sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu.


1. Cuộc đời, phong cách và sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu:
1.1. Lý lịch của Xuân Diệu:

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ tình nổi tiếng của Việt Nam. Sinh vào ngày 2 tháng 2 năm 1916 tại tỉnh Bình Định, ông đã để lại dấu ấn đậm nét trong văn học Việt Nam. Xuân Diệu đã sống và làm việc chủ yếu tại tỉnh Hà Tĩnh, nước Việt Nam. Ông là con của Ngô Xuân Thọ và Nguyễn Thị Hiệp. Từ khi còn nhỏ, ông sống ở Tuy Phước cho đến khi 11 tuổi. Cha của ông, Ngô Xuân Thọ, là một giáo sư Hán học nổi tiếng, nhờ đó sự nghiệp học hành của Xuân Diệu được đào tạo và hướng dẫn rất kỹ lưỡng.

Xuân Diệu được đào tạo và hướng dẫn rất bài bản, quy củ từ nhỏ, học chữ Nho và chữ Quốc ngữ. Sau đó, ông tiếp tục học tập tại nhiều trường có tiếng trên khắp Việt Nam như trường Bưởi ở Hà Nội và trường Khải Định ở Huế.

Vào năm 1958, nhờ sự giới thiệu của ông Hoàng Tùng, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân, nhà thơ Xuân Diệu đã quen biết với nhà báo Bạch Diệp, người cũng làm việc tại đó. Lúc đó, Xuân Diệu đã trên 40 tuổi và Bạch Diệp chỉ mới 29 tuổi. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân của hai người không kéo dài được lâu và họ đã ly dị sau đó. Không có con chung, Xuân Diệu đã sống độc thân cho đến khi qua đời vào năm 1985.

Xuân Diệu và Huy Cận là hai nhà thơ cùng quê Hà Tĩnh, họ đã trở thành đôi bạn thân thiết khi gặp nhau. Vợ của Huy Cận là bà Ngô Thị Xuân Như, em gái của Xuân Diệu.

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ được đánh giá là có tầm ảnh hưởng đến nền văn học Việt Nam. Ông đã sáng tác nhiều tác phẩm văn học, trong đó những bài thơ tình của ông là những tác phẩm nổi tiếng nhất. Các bài thơ tình của Xuân Diệu thường được đánh giá là sâu sắc, tình cảm và ẩn chứa những ý nghĩa sâu xa về tình yêu và cuộc sống.
1.2. Tiểu sử của Xuân Diệu:

Xuân Diệu được giáo dục trong một môi trường gia đình hiếu học và được học nhiều ngôn ngữ từ nhỏ, bao gồm cả chữ Nho và chữ Quốc ngữ. Sau đó, ông học tập tại nhiều trường có tiếng như trường Bưởi ở Hà Nội và trường Khải Định ở Huế. Năm 1927, khi ông 11 tuổi, ông đến Quy Nhơn để tiếp tục học tập.

Năm 1936 – 1937, Xuân Diệu đi học tại Huế trong một năm và đỗ tú tài sau đó. Năm 1937, ông đi Hà Nội để học Luật và viết báo. Tại đây, ông tham gia nhóm Tự Lực Văn Đoàn, một trong những tổ chức nghệ sĩ nổi tiếng ở miền Bắc vào thời điểm đó.

Sau khi tốt nghiệp tú tài và cử nhân Luật, năm 1943, Xuân Diệu đỗ tham tá Thương chính và làm viên chức ở Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ông cũng dạy học tư trong thời gian này. Tuy nhiên, chỉ một năm sau đó, ông quyết định từ bỏ công việc viên chức để tập trung vào việc viết văn và trở về Hà Nội sinh sống.

Năm 1943, Xuân Diệu tốt nghiệp cử nhân Luật và đỗ tham tá Thương chính, trở thành viên chức ở Mỹ Tho. Tuy nhiên, chỉ sau một năm làm việc, ông quyết định thôi việc và ra Hà Nội sinh sống bằng nghề viết văn.

Năm 1944, Xuân Diệu tham gia tích cực vào các phong trào cách mạng phục vụ kháng chiến. Ông trở thành Đảng viên Đảng Cộng Sản và hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội.

Sau đó, ông được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam và làm Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa 1, 2, 3 từ năm 1957 đến năm 1985. Năm 1983, ông được Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức bầu làm Viện sĩ thông tấn.

Ngày 18/12/1985, Xuân Diệu qua đời khi ông mới 69 tuổi, để lại nhiều tác phẩm văn chương và thơ ca để lại dấu ấn trong lòng độc giả.

Năm 1996, Xuân Diệu được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật để tưởng nhớ và vinh danh tài năng của ông. Tên của ông cũng được sử dụng để đặt cho nhiều tuyến đường, trường học ở nhiều tỉnh thành trên cả nước
2. Phong cách sáng tác của Xuân Diệu:

Xuân Diệu là một nhà thơ lớn và nổi tiếng trong phong trào Thơ mới ở Việt Nam. Với bản sắc thơ độc đáo, thơ của ông đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả. Tài năng của ông nằm ở khả năng sáng tạo ngôn từ, đưa ra những hình ảnh tươi mới và gần gũi với cuộc sống hàng ngày.

Tuy nhiên, không chỉ có văn chương mà Xuân Diệu còn là một con người có tinh thần lao động nghệ thuật bền bỉ. Việc sáng tác văn thơ không chỉ là để khẳng định tài năng của ông mà còn là cách để ông giao cảm với đời, khẳng định sự hiện hữu của mình trong cuộc đời.

Được biết đến với biệt danh “ông hoàng của tình yêu”, thơ của Xuân Diệu thường xuyên mang đến cảm giác tươi mới, yêu đời mãnh liệt và luôn có sức hút đặc biệt đối với độc giả. Ông là một trong những nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ mới, chất thơ của ông luôn tạo được sự khác biệt và mới mẻ, đem lại những trải nghiệm đầy ý nghĩa cho người đọc.

Đặc biệt, trong thơ của Xuân Diệu, tình yêu luôn là một chủ đề không thể thiếu. Ông đã tạo ra những tác phẩm thơ tình lãng mạn, đầy sức hút, đưa người đọc vào một thế giới tình cảm đầy mơ mộng và lãng mạn. Nhiều bài thơ của ông đã trở thành những tình khúc, truyền cảm hứng và yêu đời cho nhiều thế hệ người yêu văn chương và nghệ thuật.

Không chỉ đóng góp cho nghệ thuật, Xuân Diệu còn là một người hoạt động chính trị cách mạng tích cực. Ông tham gia các phong trào cách mạng phục vụ kháng chiến, từ phong trào Việt Minh đến trở thành Đảng viên Đảng Cộng Sản. Sau khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ông tiếp tục hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc và làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội.

Ngoài ra, Xuân Diệu còn đóng góp to lớn cho nền văn học Việt Nam bằng việc giữ chức Ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam trong các khóa từ năm 1957 đến năm 1985. Năm 1983, ông còn được Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức bầu làm Viện sĩ thông tấn.
3. Sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu:

Xuân Diệu không chỉ là một nhà thơ lớn mà còn là một tác giả đa tài trong lĩnh vực văn học. Với hơn 450 bài thơ đã viết, ông đã góp phần làm sôi động và đem đến sức sống mới cho thơ ca đương đại. Các tác phẩm tiêu biểu như Thơ thơ, Gửi hương cho gió, và Tôi giàu đôi mắt, đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả. Bên cạnh đó, ông còn viết văn xuôi với các tác phẩm như Ký sự thăm nước Hung, Triều lên, và Việt Nam trở dạ, tiểu luận phê bình với Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ, và cả dịch thơ như Thi hào Nadim Hitmet.

Sau cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu còn có hướng đi mới trong phong cách viết thơ, hướng tới đời sống thực tế và tính thời sự. Với ý thức trách nhiệm của một công dân, ông đã miệt mài sáng tác những bài thơ chào đón cách mạng với các vần thơ yêu đời. Với hơn một nửa thế kỷ lao động nghệ thuật, Xuân Diệu đã để lại cho đời một sự nghiệp văn học vô cùng xuất sắc và đa dạng. Mặc dù ông đã có đóng góp lớn ở nhiều lĩnh vực, nhưng khi nhắc tới Xuân Diệu, người ta sẽ luôn nhớ đến một nhà thơ vĩ đại, một cây đại thụ của thơ ca Việt Nam.

Bài thơ Vội vàng được coi là tiêu biểu nhất trong tập Thơ thơ của Xuân Diệu và đã được giới thiệu trong chương trình Ngữ văn 11. Bài thơ này mang lại cho người đọc cảm giác vội vã, giục giã và những suy nghĩ lo lắng, khắc khoải trước sự khước từ của thời gian. Bài thơ như một lời nhắc nhở cho các bạn trẻ rằng, thời gian là hữu hạn và chúng ta phải trân trọng mỗi khoảnh khắc để sống một cuộc đời ý nghĩa.

Đối với Xuân Diệu, viết thơ là một cách để ghi lại tâm hồn của mình và trở nên bất tử trong thời gian. Ông tin rằng, thơ là một năng lực siêu việt có thể vượt qua thời gian. Ông dùng thơ để sản xuất ra các tác phẩm có tính cá nhân và cảm xúc, do đó, phong cách viết văn của ông thường có những câu văn đầy cảm xúc và không giống ai.

Xuân Diệu là một nhà thơ có nhiều khía cạnh, ông không chỉ miêu tả thiên nhiên mà còn tái hiện nó bằng nghệ thuật viết. Ông sử dụng cả 5 giác quan để khám phá và miêu tả sự vật bằng những biến thái tinh vi nhất. Từ cách đặt câu đến cách sử dụng câu trong thơ, phong cách của Xuân Diệu luôn mang một sự mới mẻ và có phong cách Tây hơn.


Share:

Xuân Diệu - hồn thơ mới gắn với hồn dân tộc


Nhà thơ Xuân Diệu

Để hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Xuân Diệu, để thêm một lần khẳng định vai trò của nhà thơ đối với văn hóa dân tộc, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Xuân Diệu (1916 - 2016), Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc, Hội đồng hương Bình Định đã phối hợp tổ chức Hội thảo "Xuân Diệu với văn hóa dân tộc".

Nói về sự cống hiến của Xuân Diệu với sự nghiệp văn hóa dân tộc nước nhà, GS Hoàng Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc khẳng định: Xuân Diệu là một tài năng đặc biệt của miền đất địa linh nhân kiệt Bình Định. Thơ Xuân Diệu như một biên niên sử về xã hội, văn hóa dân tộc, lịch sử, con người Việt Nam từ thủa còn nô lệ đến ngày độc lập tự do và tiến lên xã hội chủ nghĩa. 15 tập thơ, 5 tập tiểu luận và văn xuôi của Xuân Diệu đã được NXB Văn học tập hợp in thành 6 tập, gồm 6.000 trang sách là một di sản, đóng góp lớn lao cho nền văn hóa dân tộc nước nhà.

Cũng theo GS Hoàng Chương, có gần Xuân Diệu, có được nghe ông nói và có đọc kỹ thơ của ông mới thấy tâm hồn của ông là tâm hồn dân tộc, thi pháp thơ của ông là thi pháp thơ dân gian, dân tộc và luôn gắn kết với văn hóa dân tộc.

Theo nhạc sỹ Mai Tuyết Hoa, nhiều người vẫn chỉ nghĩ rằng Xuân Diệu là nhà thơ tình, nhà thơ mới, nhưng càng đọc, càng nghe nhiều thơ ông, sẽ càng thấy rõ về một thi sỹ toàn diện, một người mang tâm hồn dân tộc, cả cuộc đời gắn kết với văn hóa dân tộc, và đặc biệt ông rất thích âm nhạc dân tộc. Không chỉ giỏi về thơ, ca, nhà thơ Xuân Diệu còn là người rất yêu và am hiểu sâu sắc về những loại hình nghệ thuật truyền thống như nghệ thuật hát tuồng, hát bài chòi, hát ca trù, xẩm, chầu văn...

Trong công trình tiểu luận về Á Nam Trần Tuấn Khải, Xuân Diệu đã có những nhận xét rất hay về âm nhạc dân tộc. Ông ví xẩm như một câu hát vặt lấy lục bát làm cơ sở, nhưng điệu hát xẩm thì nhanh nhẹn, đon đả, chỉ đệm thêm một số ít tiếng chữ vào câu sáu, tám, còn câu hát vặt thì ngâm nga theo điệu sa mạc…

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Khoa, là người nặng lòng với văn hóa dân tộc, nhà thơ Xuân Diệu đã có bài phê bình nghiên cứu tuyệt hay về ca dao dân ca miền Nam Trung Bộ. Bài viết có tên “Sống với ca dao dân ca miền Nam Trung Bộ” viết năm 1963. Trong bài viết này, Xuân Diệu đã kể chuyện “tôi với em tôi chen chúc nghe hô bài chòi ngày Tết ở chợ làng Văn Quang. Làng nhỏ, chợ nhỏ, đồng bào rất hiền lành, anh hô bài chòi cũng hiền”. Rồi ông viết về chuyện đêm nằm đò dọc từ Vạn Gò Bồi xuống Giã (Quy Nhơn) nghe “gió nhẹ hiu hiu phần phật trên buồm” và “sóng nhỏ nghìn đập canh cánh dưới thân thuyền” - đó là chuyện về tục hát giã gạo ở Vạn Gò Bồi với những đợt hát kéo dài suốt mấy tháng liền.

Xuân Diệu viết “ca dao dân ca Nam Trung Bộ, Bình Định đã ru tôi ngủ và đánh thức tôi dậy với những thương mến bao la của quê hương thứ nhất, nơi má đẻ ra mình”. Ông Khoa đánh giá, cho đến nay, bài viết này vẫn là bài viết công phu nhất, toàn diện nhất, sâu sắc và giàu cảm xúc nhất về ca dao dân ca miền Nam Trung Bộ và Bình Định, bởi với Xuân Diệu, đây là “một thứ máu của Tổ quốc”.

Đại tá, nhà thơ Mai Nam Thắng cho rằng, không chỉ là nhà thơ mới, là ông hoàng thơ tình, mà Xuân Diệu còn là nhà thơ nhiệt thành làm thơ phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Các tập thơ ông viết trong kháng chiến như “Mẹ con” năm 1953, “Ngôi sao” năm 1954 rồi đến “Riêng chung” năm 1960 đã đánh dấu sự đổi thay trong thơ ông.

Theo nhà thơ Mai Nam Thắng, từ một nhà thơ trữ tình bậc nhất trong phong trào thơ mới, Xuân Diệu đã nhập thế một cách hăng hái nhiệt tình, trở thành một tác giả thơ ca cách mạng. Theo nhà thơ Mai Nam Thắng, bên cạnh khối lượng thơ đáng kể, Xuân Diệu còn để lại một di sản văn xuôi khá lớn, chủ yếu ở phê bình văn học…

Mơ về một khu tưởng niệm

Theo NSƯT Nguyễn Gia Thiện, Giám đốc nhà hát Tuồng Đào Tấn, công lao, sự nghiệp của nhà thơ Xuân Diệu là vô cùng to lớn. Ông đã mang ngọn gió rạo rực, đắm say, thiết tha, nồng cháy, khao khát yêu thương về con người, cuộc đời, đất nước, nhân thế bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị đến thơ ca. Thơ văn Xuân Diệu có đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển văn chương dân tộc, là mạch nguồn cảm hứng cho văn học - nghệ thuật, trong đó có cả các hoạt động phổ nhạc, viết kịch…

Tên ông, ngoài việc được đặt cho một số trường học, đường phố, trong đó có con đường biển đẹp nhất TP Quy Nhơn, đặt tên cho nhà văn hóa, cho câu lạc bộ văn học… năm 1995, còn được UBND tỉnh Bình Định ghép cùng tên danh nhân văn hóa Đào Tấn làm thành giải thưởng Đào Tấn - Xuân Diệu, một giải thưởng văn học nghệ thuật cao quý dành cho những người tham gia sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật ở Bình Định. Hơn 20 năm năm tồn tại, giải thưởng đã góp phần khích lệ, động viên và là mục tiêu để các văn nghệ sỹ phấn đấu.

Trong phát biểu của mình, GS Hoàng Chương bày tỏ sự mong muốn của các cơ quan chức năng, đặc biệt là cơ quan văn hóa về việc chung tay xây dựng một khu tưởng niệm Xuân Diệu, để nơi đây trở thành một điểm đến của những người yêu thơ trong và ngoài nước.

Trong khu tưởng niệm này, ngoài những hiện vật sinh động, phong phú và nhiều ý nghĩa về cuộc đời một nhà thơ nổi tiếng, du khách có thể được nghe kể chuyện về cuộc đời của một ông vua thơ tình. Đồng thời nghệ thuật hóa, sân khấu hóa thơ ông để người xem đến đây có thể được đọc thơ, nghe thơ và xem biểu diễn thơ Xuân Diệu qua nhiều loại hình nghệ thuật từ dân gian đến đương đại…

Tương lai, có thể tổ chức cả chuỗi sự kiện, tour du lịch văn hóa ở Bình Định, bắt đầu từ Bảo tàng Quang Trung nối liền đến Đàn tế trời đất trên đỉnh Ấn Sơn, qua tháp Chăm cổ kính, đến quê hương hát bội của Đào Tấn, di tích nước Mặn - chữ quốc ngữ, nhà bảo tàng Xuân Diệu, đồi thi nhân Hàn Mặc Tử… GS Hoàng Chương cho rằng, tour du lịch theo lịch trình này chắc chắn sẽ là một lộ trình thu hút nhiều du khách tham gia.

Theo Lan Lộc (báo Tin tức)
Share:

Nhà lưu niệm Xuân Diệu - một điểm hẹn văn hóa


Nhà lưu niệm Xuân Diệu được xây dựng trên nền nhà bà ngoại nhà thơ, ở thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước - trung tâm của vạn Gò Bồi xưa.

Nhà lưu niệm Xuân Diệu có quy mô khiêm tốn theo kiến trúc Pháp với mái ngói và cửa vòm. Phía sân bên phải còn đó cây khế cổ thụ có từ thời bà ngoại ông còn sống. Phía bên trái, cây sứ trắng được trồng bởi nhà thơ Huy Cận - người bạn thân thiết suốt đời của Xuân Diệu - vẫn đang tỏa hương thơm dịu.

Cách trình bày, bài trí hiện vật, tư liệu liên quan đến Xuân Diệu trong Nhà lưu niệm khá chuyên nghiệp. Tại phòng giữa, ảnh nhà thơ đặt trang trọng trên bàn thờ, nơi thắp hương tưởng niệm. Bên trái, cùng với bảng ghi tiểu sử có tượng nhà thơ với cái nhìn hơi nghiêng và mái tóc “vươn trên đài trán ngây thơ”. Phía bên phải, Chứng nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật của Xuân Diệu được đóng khung trang trọng bên cạnh bức ảnh toàn cảnh vạn Gò Bồi - quê mẹ, nơi nhà thơ sinh thành.



Một góc phòng trưng bày về thân thế, sự nghiệp của nhà thơ.

Có lẽ, để tạo ấn tượng mạnh, người bài trí đã giới thiệu toàn văn bài thơ “Chấp nhận” nổi tiếng của thi sĩ phía bên trái bàn thờ - phía trái tim. Bài thơ cho ta cảm nhận về những phẩm chất độc đáo của Xuân Diệu: bướng bỉnh trước quy luật sinh tử “Đã không tránh khỏi thì tôi nhận. Một cách đau thương nhưng ngẩng đầu”; sống hết mình cho công việc “… tôi đã sống hết mình. Suốt đời không một chút coi khinh. Tôi coi trọng nhất khi làm việc. Họa có thua khi sống với tình”…

Sang phòng trưng bày thứ hai, người xem được cung cấp tư liệu, hình ảnh để có thể hình dung cụ thể, toàn diện hơn về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ. Ngắm chân dung thân phụ - ông đồ Ngô Xuân Thọ, người Hà Tĩnh và thân mẫu- cô hàng nước mắm vạn Gò Bồi Nguyễn Thị Hiệp, tôi lại nhớ đến những câu thơ: “Cha Đàng Ngoài, mẹ ở Đàng Trong. Hai phía đèo Ngang một mối thâm tình…”. Phải chăng sự tác hợp hôn nhân, sự giao hòa văn hóa hai miền đã tạo nên sự sâu sắc theo kiểu ông đồ Nghệ và sức sống tràn trề của người dân vạn chài trong thơ Xuân Diệu?

Cũng trong căn phòng này, nhiều di vật quý được trưng bày, như ảnh Xuân Diệu - Huy Cận chụp chung năm 1940 ở Sài Gòn; ảnh gia đình có Xuân Diệu cùng mẹ và em trai (chụp năm 1943); ảnh Xuân Diệu tại cuộc họp Quốc hội khóa 1 năm 1946 và tại diễn đàn Hội văn nghệ Cu-ba (năm 1982); Bằng Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm và Nghệ thuật Cộng hòa Dân chủ Đức… Những di vật cho người suy nghiệm và hiểu được sự nghiệp văn học và văn hóa thi sĩ để lại cho đời, khẳng định diện mạo của một nhà thơ lớn. Tôi chú ý đến một di vật khác, cuốn sổ tay Xuân Diệu đã chép những bài thơ sáng tác trong những năm 1974-1976 để tặng ông Trà Văn Tri, một người bạn 50 năm gắn bó, một người bình thường.

Ở phòng trưng bày thứ ba, phía bên phải trưng bày nhiều ảnh, sách, bài báo… xoay quanh chủ đề tưởng nhớ nhà thơ Xuân Diệu. Đó là ảnh các vị lãnh đạo đến viếng tại lễ tang nhà thơ, các nhà văn hóa, trường học mang tên ông… Ở đây cũng trưng bày nhiều bút tích, bài báo, sách, thơ… của các nhà lãnh đạo, đồng nghiệp, bạn bè, người yêu thơ viết về ông, về những kỷ niệm từng gắn bó với ông trong cuộc sống và công việc, về nhân cách cao quý của nhà thơ…

Trong hồi ký, Xuân Diệu viết: “Tôi cho rằng mỗi con người có nghĩa vụ phải đào sâu vào kỷ niệm của mình, vào quá khứ tình cảm của mình để làm giàu thêm cái vốn nhân đạo trong mỗi con cháu chúng ta”. Hằng năm, có nhiều người từ mọi miền đất nước đến với Nhà lưu niệm này và chính quyền địa phương đều trân trọng tổ chức giỗ ông vào ngày 18.12. Ý nguyện của nhà thơ đã được thực hiện, khi Nhà lưu niệm, với những giá trị mà nó đang mang chứa bên trong, đang thực hiện vai trò làm giàu thêm cái “vốn nhân đạo” trong đời sống cộng đồng, đất nước hôm nay.

NGÔ HỒNG SƠN
Share:

Khám phá du lịch Tuy Phước (Bình Định) với 5 địa điểm độc đáo

 

Gò Bồi và Sông Côn

Tuy Phước là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Bình Định. Cùng khám phá 5 địa điểm du lịch Tuy Phước hấp dẫn, đẹp, nổi tiếng.

Nhắc đến Tuy Phước, người ta thường nghĩ ngay đến một vùng đất văn hiến với bề dày văn hoá - lịch sử gắn liền với nhiều cuộc cách mạng hào hùng của dân tộc. Bên cạnh đó, nơi đây còn là một trong những địa điểm du lịch được nhiều người biết đến bởi cảnh vật thiên nhiên xinh đẹp và có nhiều di tích lịch sử vô cùng nổi tiếng. Hãy cùng tìm hiểu 5 địa điểm du lịch nổi tiếng tại Tuy Phước nhé!

1 Tổng quan về Tuy Phước

Huyện Tuy Phước là một huyện nằm ở phía nam của tỉnh Bình Định. Phía Đông của huyện giáp với thành phố Quy Nhơn, phía Tây giáp thị xã An Nhơn, phía Nam giáp thành phố Quy Nhơn và huyện Vân Canh, còn phía Bắc giáp huyện Phù Cát. Địa hình của huyện chủ yếu là dạng địa hình đồng bằng tích tụ ven sông và đồng bằng duyên hải, do đó kinh tế chủ yếu của huyện là đến từ nông nghiệp.

Đã từ rất lâu, người ta biết đến Tuy Phước là vùng đất có truyền thống văn hóa, nơi đây là quê hương của rất nhiều nhân vật văn hóa nổi tiếng như ông tú Nguyễn Diêu, danh nhân văn hóa Đào Tấn và nhà thơ Xuân Diệu,... Bên cạnh đó, vùng đất này cũng là nơi sản sinh ra các anh hùng hào kiệt của dân tộc và gắn liền với nhiều phong trào đấu tranh vẻ vang như phong trào Cần Vương. Ngày nay, Tuy Phước là một địa điểm không thể bỏ qua khi nhắc đến du lịch Bình Định.

Tổng quan huyện Tuy Phước

2 - 5 địa điểm du lịch Tuy Phước đẹp, nhất định phải ghé

Tháp Bánh Ít:

Tháp Bánh Ít

Đánh giá chất lượng: 4.5/5 (Đánh giá bởi Google)

Địa chỉ: Phước Hiệp, Tuy Phước, Bình Định

Giờ mở cửa: 7h00 đến 18h00 từ thứ Hai đến Chủ nhật (thường đông khách từ 9h00 đến 11h00)

Facebook: Đang cập nhật

Ưu điểm: Công trình độc đáo, mang ý nghĩ lịch sử to lớn

Nhược điểm: Đang ngày càng xuống cấp

Tháp Bánh Ít là một công trình kiến trúc độc đáo của người Chăm cổ để lại cho vùng đất Bình Định và được xem là biểu tượng văn hóa của địa phương. Tháp Bánh Ít tọa lạc trên đồi Đại Lễ, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nằm gần quốc lộ 1A nên du khách có thể dễ dàng di chuyển đến nơi đây.

Tháp Bánh Ít là một quần thể gồm 4 tòa tháp khác nhau về kích thước và hình dạng. Cái tên Bánh Ít của công trình này được lấy từ loại bánh ít truyền thống của người dân đất Bình Định. Quả thật nhìn từ xa, những tòa tháp trông giống như những chiếc bánh ít khổng lồ được xếp cạnh nhau.

Được xây dựng từ thế kỷ thứ X, tính đến nay Tháp Bánh Ít đã trải qua hơn 1000 năm lịch sử nhưng độ sắc sảo, tỉ mỉ của từng đường nét điêu khắc của công trình vẫn khiến chúng ta kinh ngạc. Tháp Bánh Ít mang đậm phong cách nghệ thuật Chăm-Pa cổ với nhiều hoạ tiếp vô cùng độc đáo khiến cho công trình này trở thành một trong 1001 công trình kiến trúc không thể bỏ qua của thế giới.

Tuy tháp Bánh Ít không phải là công trình duy nhất và đồ sộ nhất do người Chăm-Pa cổ xây dựng. Thế nhưng với vẻ đẹp nguy nga, tráng lệ trường tồn với năm tháng, Tháp Bánh Ít sẽ khiến bạn vỡ oà cảm xúc khi được tận mắt ngắm nhìn chúng ngoài đời thực.

Tiểu chủng viện Làng Sông:

Tiểu chủng viện Làng Sông

Đánh giá chất lượng: 4.7/5 (Đánh giá bởi Google)

Địa chỉ: Phước Thuận, Tuy Phước, Bình Định

Giờ mở cửa: 7h00 đến 11h30 và 14h00 đến 17h30 các ngày trong tuần (thường đông khách từ 9h00 đến 11h00)

Facebook: Không có

Ưu điểm: Công trình uy nga, tráng lệ

Nhược điểm: Đang cập nhật

Tiểu chủng viện Làng Sông (hay còn được gọi là nhà thờ Lòng Sông) tọa lạc tại thôn Quảng Vân, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước. Được xây dựng vào năm 1864, thế nhưng cho đến nay, công trình kiến trúc cổ này vẫn nguyên vẹn và không có nhiều dấu hiệu xuống cấp, hư hỏng theo thời gian.

Tiểu chủng viện Làng Sông được đặt giữa một gò đất cao, 4 bề được bao bọc bởi những hào nước trong mát. Xuyên qua những lớp cây sao xanh có tuổi đời hàng trăm năm tuổi, công trình hiện lên tráng lệ và uy nga như một cung điện trong cổ tích. Chính điện của nhà thờ và những tháp bút chì với nhiều mái vòm cong nhọn mang đậm phong cách kiến trúc cổ Gothic.

Hiện nay, nhà thờ không còn hoạt động như mục đích ban đầu mà đã trở thành địa điểm tham quan cho người dân địa phương và du khách từ phương xa đến. Nơi đây đã trở thành địa điểm dành cho những ai muốn trải nghiệm không gian cổ kính và là địa điểm chụp hình cưới siêu lung linh của nhiều cặp đôi.

Khu sinh thái Cồn Chim:

Khu sinh thái Cồn Chim

Đánh giá chất lượng: 4.7/5 (Đánh giá bởi Google)

Địa chỉ: Phước Sơn, Tuy Phước, Bình Định

Giờ mở cửa: Mở cả ngày

Facebook: Đang cập nhật

Ưu điểm: Cảnh quan thiên nhiên yên bình

Nhược điểm: Đang cập nhật

Khu sinh thái Cồn Chim trải dài qua các xã Phước Sơn, Phước Hòa, Phước Thuận của huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Với diện tích 240 ha, ban đầu khu sinh thái Cồn Chim nằm trong dự án phục hồi sinh thái và khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi vùng Cồn Chim - đầm Thị Nại, nhưng vẻ đẹp thanh bình, yên ả của lớp áo xanh ngút ngàn của sóng nước, mây trời và cánh rừng ngập mặn đã nhanh chóng biến nơi đây trở thành địa điểm du lịch lý tưởng.

Đến với khu sinh thái Cồn Chim, bạn sẽ được hòa mình cùng thiên nhiên sông nước với những cánh rừng ngập mặn bạt ngàn, là nơi trú ngụ và nuôi dưỡng hàng trăm loài chim và tôm, cá. Nếu chịu khó thức thật sớm, bạn có thể trải nghiệm cảm giác đón ánh bình minh vừa ló dạng trên mặt đầm và bắt đầu nhuộm màu vàng hồng ấm áp cả cánh rừng rộng lớn.

Bạn cũng có thể ngắm nhìn cuộc sống của người dân địa phương với những chiếc sõng đầy ắp cá, tôm sau một đêm dài đánh bắt. Hoặc cũng có thể trải nghiệm hoạt động chèo thuyền, sõng xuôi theo dòng nước dạo quanh rừng và ngắm nhìn từng đàn cá bơi tung tăng dưới nước, hay từng đàn chim cất tiếng hót ríu rít trên những cành cao. Khi ấy, bao nhiêu muộn phiền, lo toan của cuộc sống dường như tan biến, chỉ còn sự bình yên, thong thả của tâm hồn bạn với vẻ đẹp hiền hoà của thiên nhiên.

Mộ Đào Tấn:

Mộ Đào Tấn

Đánh giá chất lượng: 4.5/5 (Đánh giá bởi Google)

Địa chỉ: Xuân Diệu, Phước Nghĩa, Tuy Phước, Bình Định

Giờ mở cửa: Mở cả ngày

Facebook: Đang cập nhật

Ưu điểm: Mang ý nghĩa lịch sử

Nhược điểm: Công trình đang bắt đầu xuống cấp

Công trình này được người dân xây dựng để thờ cúng Đào Tấn - một vị quan đại thần liêm khiết và cũng là nhà thơ, nhà soạn tuồng kiệt xuất của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Nằm tọa lạc tại vùng quê yên bình của xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước, mộ Đào Tấn có thế đất “tựa núi nhìn sông” rất đẹp, công trình đã trở thành một địa điểm di tích lịch sử và là nơi tham quan không thể bỏ qua của nhiều du khách từ phương xa đến.

Khi đến thăm mộ Đào Tấn, du khách sẽ được chiêm ngưỡng và trầm lắng bởi nét đẹp cổ kính, linh thiêng của công trình, để rồi nghiêng mình ngưỡng mộ Đào Tấn – một bậc trí tài đức vẹn toàn, biểu trưng cho xứ Nẫu Bình Định “đất võ trời văn”.

Chùa Bích Nam:

Chùa Bích Nam

Đánh giá chất lượng: 4.6/5 (Đánh giá bởi Google)

Địa chỉ: Quảng Nghiệp, Phước Hưng, Tuy Phước, Bình Định

Giờ mở cửa: Đang cập nhật

Facebook: Đang cập nhật

Ưu điểm: Địa điểm linh thiêng

Nhược điểm: Đang cập nhật

Chùa Bích Nam tọa lạc tại xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước của tỉnh Bình Định. Mặc dù chỉ mới thành lập vào năm 2019, nhưng với độ hoành tráng, uy nghiêm nhưng không kém phần thanh bình và thơ mộng, ngôi chùa này ngày càng được nhiều người biết đến và thu hút lượng du khách đông đảo đến tham quan hàng năm.

Chùa Bích Nam có diện tích rộng lớn, với những công trình đồ sộ được điêu khắc các hoa văn độc đáo và mang đậm phong cách Phật giáo. Khi đặt chân đến nơi đây, bạn sẽ cảm thấy mình như đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác, với không gian bao la, thanh tịnh và những công trình đồ sộ, mang nét kiến trúc cổ kính đặc trưng.

Nếu bạn đang cần tìm một nơi để trốn thoát khỏi những lo toan và áp lực của cuộc sống hằng ngày, và muốn tìm kiếm một không gian yên tĩnh và thanh bình, thì chùa Bích Nam sẽ là một lựa chọn tuyệt vời cho bạn.

Trên đây là 5 nổi tiếng tại huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Xin giới thiệu đến các bạn. Hy vọng thông qua những gợi ý này, bạn sẽ có được chuyến đi tuyệt vời tại vùng đất xinh đẹp này.
Share:

Ghé Thăm Mộ Hàn Mặc Tử – Thi Nhân Tài Hoa Việt Nam


Mộ Hàn Mặc Tử là nơi được nhiều du khách lựa chọn ghé thăm và thắp nén hương cho nghệ sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh này khi đến với Quy Nhơn. Bạn khám phá xem tại sao nơi đây du khách yêu thích khi muốn tìm một nơi dừng chân yên bình.

1. Đôi nét về thi sĩ Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử sinh năm 1912, mất năm 1940, tên thật là Nguyễn Ngọc Trí. Ông là một trong nhũng người khởi sướng ra trường thơ “điên” với nhiều tác phẩm để đời. Ông cũng là người tiên phong cho phong cách thơ lãng mạng hiện đaị Việt Nam.
Các tác phẩm của ông có sự ảnh hưởng mạnh đến thơ văn nước nhà, hiện tạo cũng được đưa vào giảng dạy với các tác phẩm như Lệ Thanh thi tập, Thơ Điên, Duyên Kỳ Ngộ. Tài hoa thế đấy nhưng Ông bạc mệnh Hàn Mặc Tử qua đời khi tuồi còn rất trẻ- 28 tuổi do căn bệnh phong quái ác.
Năm 1940 Sau thời gian chống chọi với căn bệnh ông đã qua đời và chôn cất ở Quy Hòa. Đến 20 năm sau người thân của ông và bạn bè dời mộ về đồi Thi Nhân, Quy Nhơn, Bình Định. Hiện tại ngôi mộ của ông được chăm sóc và là một trong những điểm thu hút khách du lịch khi đến với Quy Nhơn.

2. Cách di chuyển đến mộ Hàn Mặc Tử

Du khách ở trung tâm thành phố có thể duy chuyển trên tuyến đường An Dương Vương- Hàn Mạc Tử hướng xuống phía nam của thành phố,
Có thể di chuyển bằng phương tiện Taxi hoặc xe ôm, xe công nghệ dến cổng khu du lịch Ghềnh Ráng và có thể chạy lên trên dốc rồi gửi xe. Trước năm 2015 thì vào cổng không mất phí, sau năm 2015 khu du lịch Ghềnh Ráng được tu sửa lại và bán vé vào cổng giá10.000 VND.

Đia chỉ: 64 Hàn Mặc Tử, Phường Ghềnh Ráng, TP. Quy Nhơn, Bình Định
Gía vé: 10.000 VND/ người
Giờ mở cửa: 8:00 AM – 18:00 PM

Khu du lịch Ghềnh Ráng

3. Những điểm tham quan tại mộ Hàn Mạc Tử
3.1 Chiêm ngưỡng kiến trúc mộ

Mộ Hàn Mặc Tử có kiến trúc đơn giản theo cấu trúc hình chữ nhật có tượng thánh giá được xây dựng trên gò đất nhỏ nhô lên hướng thẳng ra biển. Xung quanh được trồng hoa tươi, cây xanh và lát đá quanh mộ tạo cảm giác thơ mộng, bình yên cho du khách đến thăm.
Bên trên bia mộ có ghi tên những người đóng gớp và có công xây dựng nên phần mộ này

Mộ Hàn Mạc Tử


3.2 Góc chụp ảnh

Quý khách có di chuyển đi bộ từ cổng khu du lịch Ghềnh Ráng vào sẽ bắt gặp dốc với tấm đá được ghi chữ thư pháp ” dốc Mộng Cầm”, nơi đây rất được nhiều du khách chụp ảnh check in. Di chuyển đến chân mộ cũng có viên đá to ghi chữ thư pháp mộ Hàn Mặc Tử.
 
Dốc Mộng Cầm

Ngoài ra đối diện mộ còn có nhà thờ Ghềnh Ráng. Di chuyển vào trong theo hướng nam sẽ có bãi tắm Hoàng Hậu( bãi trứng) khung cảnh sơn thủy hữu tình, bình yên hiếm có. Giữa không gian rộng lớn bạn có ngay 2 backrough xịn xò để lưu giữ các kỉ niệm nơi đây. Ngoài ra ở đây cũng có dịch vụ chụp hình chuyên nghiệp và lấy liền..
Leo dốc đã mệt du khách có thể vào trong nhà hàng Hoàng Hậu thưởng thức cafe , điểm tâm hoặc ăn trưa tại đây. Nơi đây có thể vừa ngắm được núi khung cảnh còn hoang sơ với các tảng đá cao, vừa ngắm biển nghe tiếng sóng vỗ rì rào rì rào vào bở cảm giác bình yên đến lạ.
Bãi trứng Quy Nhơn

3.3 Cửa hàng lưu niệm

Tới thăm mộ Hàn Mặc Tử mọi người ai cũng đều ghé thăm cửa hàng lưu niệm của nghệ sĩ Dzũ Kha, người ta iu mêm ông còn đặt cho ông cái tên bút lửa Dzũ Kha. Nơi đây lưu giữ những kỉ vật, những vầng thơ, bút tích, tư liệu về người thi sĩ tài hoa này. Đặc biệt hơn Dzũ Kha còn thể hiện tình yêu của mình với Hàn Mạc Tử bằng cách khắc những áng thơ lên những tấm gỗ để lưu giữ. Với những người yêu thư pháp hẳn đây là một món quà vô cùng ý nghĩa dùng để lưu giữ kỉ niệm cho chuyến đi này.
Cửa hàng lưu niệm Dzũ Kha

4. Những điều lưu ý khi đến thăm mộ Hàn Mặc Tử

Khi đến thăm mộ Hàn Mạc Tử du khách nên chọn cho mình những trang phục trang phục kín đáo, lịch sự để giữ được sự tôn nghiêm khi đến mộ. Tuy nhiên du khách muốn có nhiều bộ ảnh ddeeeedjp co thể mang thêm trang phục vào trong nhà hàng Hoàng Hậu để thay.
Thời gian mở cửa thăm mộ từ 8:00 AM- 18:00 PM, tuy nhiên thời điểm tham quan thích hợp nhất là buổi sáng hoặc trưa bạn có thể tham quan khám phá được nhiều nơi trong khu du lịch.
Share:

Bảy Danh Lam Thắng Cảnh Ở Bình Định

 


Binh Định không chỉ nổi tiếng với các món đặc sản thơm ngon mà còn được biết đến với nhiều cảnh quan đẹp. Nếu bạn là một người thích đi du lịch, khám phá khắp mọi nơi thì hãy tham quan một vòng những danh lam thắng cảnh ở Bình Định nhé!


1. Đảo Yến Quy Nhơn

Nơi đây được mệnh danh là mảnh đất của loài chim yến, thuộc địa phận của bán đảo Phương Mai với chiều dài cả dãy núi khoảng 15km. Tất cả hang động đều đã tồn tại được hàng vạn năm, có những hòn đá cao lên đến hàng trăm mét vô cùng hùng vĩ. Bên dưới là tiếng sóng biển vỗ rì rào còn bên trên là từng đàn chim yến lần lượt bay lượn tìm kiếm bạn đời. Tất cả tạo nên một bức tranh thiên nhiên thơ mộng và bình yên. Bên cạnh đó, người dân Bình Định cũng tận dụng khai thác yến sào – một sản vật có giá trị về mặt dinh dưỡng.


Đảo Yến Quy Nhơn là một trong những thắng cảnh tự nhiên của Việt Nam


2. Ghềnh Ráng Tiên Sa

Khi du lịch đến Bình Định nhất định bạn phải trải nghiệm khu ghềnh nổi tiếng này. Nằm cách thành phố Quy Nhơn 3km về phía đông nam, vẻ đẹp nơi đây được xem như là bức tranh thủy mặc hiếm có do thiên nhiên tạo ra. Nét đẹp giữa biển khơi mênh mông và núi đá muôn hình vạn trạng cùng tạo nên một danh lam thắng cảnh độc đáo ở Bình Định.

Ghềnh Ráng Tiên Sa -Danh lam thắng cảnh vĩ đại của Bình Định

3. Mộ Nhà Thơ Hàn Mặc Tử

Hiện tại ngôi mộ của ông được đặt tại đồi Thi Nhân, thành phố Quy Nhơn. Nếu bạn muốn tham quan địa điểm nổi tiếng này thì di chuyển theo đường biển về phía Tây Nam khoảng 3km. Với khuôn viên thoáng đãng và cây cối xanh um cùng với tiếng gió biển rì rào, bạn sẽ có những phút giây tưởng nhớ đến người thi sĩ tài ba này.


Nhất định bạn phải ghé thăm mộ Hàn Mặc Tử khi đến Bình Định

4. Chùa Long Khánh

Là ngôi chùa có tuổi đời hơn 300 năm tọa lạc tại số 141 đường Trần Cao Vân, phường Lê Lợi, tình Bình Định. Mặc dù trải qua nhiều biến cố nhưng ngôi chùa này vẫn rất kiên cố và mang vẻ trang nghiêm vốn có. Được biết chùa Long Khánh được thiền sư Đức Sơn xây dựng từ năm 1715 với mục đích phục vụ cộng đồng người Hoa sinh sống tại nơi đây.


Ngôi chùa lâu đời với thiết kế cổ kính

5. Đảo Hòn Khô

Đã đến Bình Định thì bạn phải lên kế hoạch tham quan ngay Hòn Khô – một trong những hòn đảo được xem là danh lam thắng cảnh ở đây. Hòn đảo này nằm cách Quy Nhơn 20km, bạn có thể thuê ghe hoặc thúng để di chuyển ra đảo. Điểm thu hút du khách là bãi tắm sạch sẽ, đặc biệt là dịch vụ trải nghiệm lặn ngắm san hô trong làn nước trong xanh.

Hòn Khô – Danh lam thắng cảnh cần được gìn giữ

6. Cù Lao Xanh

Người dân Bình Định đã ưu ái gọi địa điểm này là “hòn ngọc giữa Biển Đông” bởi vẻ đẹp tựa bức tranh thắng cảnh vô cùng rực rỡ. Có diện tích 364ha và hơn 2000 dân cư sinh sống, Cù Lao Xanh còn được biết là nơi có nguồn thủy hải sản phong phú và dồi dào. Chắc chắn bạn sẽ muốn được thử cảm giác được hòa mình vào dòng nước biển xanh mát cùng không khí thoáng đãng.

Cù Lao Xanh nằm trong danh sách các danh lam thắng cảnh đẹp ở Bình Định
7. Kỳ Co

Cuối cùng là một danh lam thắng cảnh mà bạn không nên bỏ qua khi ghé chơi Bình Định đó là Kỳ Co. Địa danh này được yêu thích bởi vẻ đẹp hoang sơ tự nhiên, thích hợp cho những ai muốn có một kì nghỉ yên bình. Ở đây cũng giống các hòn đảo khác là nước biển cực kì trong xanh, có thể thấy cả san hô dưới đáy. Còn gì thú vị hơn khi được thỏa sức ngâm mình dưới biển và nhìn ngắm những phiến đá hùng vĩ phía xa xa.Bức tranh tự nhiên hoang sơ của Kỳ Co
Share:

ẢNH HƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ

 

Tác giả: Quách Tấn

Hàn Mặc Tử rất chú trọng về âm nhạc và màu sắc. Đó chính vì tâm hồn Tử có nhiều trạng thái cá biệt, nhiều khi rất bí ẩn u huyền; để diễn tả, phải dùng màu sắc, hình ảnh và âm nhạc–nhất là âm nhạc, vì chỉ có âm nhạc mới diễn tả nổi những cái sâu xa, thầm kín, những cái tế nhị, u ẩn của một tâm hồn.

Nhiều khi Tử phải bỏ nghĩa thông thường của chữ, bỏ cả văn phạm của câu, để cho thanh âm tiết tấu phù hợp với những biến chuyển, những rung động, những xao xuyến của tâm hồn–một tâm hồn mênh mông và đối với chúng ta có phần xa lạ–mà văn tự chính xác nhiều khi không diễn tả được thấu đáo, không diễn đạt đúng ý muốn của người thơ. Cho nên xem thơ Hàn Mặc Tử, nhiều khi không nên chấp ở chữ mà hại lời, không nên chấp ở lời mà hại ý. Và muốn nhận thức tình ý trong thơ được đầy đủ, thì phải thưởng thức nhạc thơ trước nhất, vì trong thơ Tử, nhạc đi trước mà ý theo sau, và có khi ý không ở trong lời mà ở trong nhạc.
Trong tâm hồn Tử, không có những bức thành kiên cố ngăn cách tôn giáo của mình và tôn giáo của người, nhất là đối với Phật giáo. Vì không có những bức thành kiên cố ngăn cách giữa tôn giáo mình và tôn giáo người, nên Tử đã đi tìm nguồn cảm hứng trong Đạo Bồ Đề. Và mặc dù tự xưng mình là “Thi sĩ của đạo quân Thánh Giá”, Tử vẫn không ngần ngại đem những từ ngữ, những hình ảnh của Phật giáo và dùng trong văn thơ mình, dùng cả vào trong những bài có tinh thần Thiên Chúa giáo nhiều nhất. Như bài Thánh Nữ Đồng Trinh là một.
Bài này Là những lời Tử dâng lên Đức Maria để ca ngợi “ơn phước cả”, mà Thánh Nữ đã ban cho Tử trong “cơn lâm lụy”. Trong bài có những chữ “Từ Bi”, “ba ngàn thế giới”, là chữ của nhà Phật, dùng một cách sướng khoái:
Lạy Bà là Đấng tinh truyền thánh vẹn
Giàu nhân đức, giầu muôn hộc từ bi
Tôi ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh
Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới
 
Hai chữ “Từ bi”, còn thấy dùng trong nhiều bài khác:
Thơ tôi thường huyền diệu
Mọc lên đạo từ bi
(Cao Hứng)
Trời từ bi cảm động ứa sương mờ
Sai gió lại lay hồn trong kẽ lá
(Hãy Nhập Hồn Em)
Nhiều từ ngữ khác của Phật giáo, như “hằng hà sa số” “mười phương” cũng thường gặp trong thơ Tử:
Mây vẽ hằng hà sa số lệ
Là nguồn ly biệt giữa cô đơn
(Cuối Thu)
Đóng cửa mười phương lại
Dồn ánh sáng vào đây
(Điềm lạ)
Trời như hớp phải hơi men ngan ngát
Đắm muôn nghìn tinh lạc xuống mười phương
(Nguồn thơm)
Nhưng đó chỉ là những dấu tích bên ngoài. Trong thơ Hàn Mặc Tử có nhiều bài chịu ảnh hưởng cả hình thức lẫn tinh thần Phật giáo:
Bay từ Đao Lỵ đến trời Đâu Suất,
Và lùa theo không biết mấy là hương.
(Phan Thiết)
Trở lại trời tu luyện với muôn đêm,
Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả.
(Phan Thiết)
Ngoài những ngôn ngữ phổ thông của nhà Phật, như “thành chánh quả”, “sông Hằng”, Tử vãi tung thơ lên tận sông Hằng (Phan Thiết). Ngoài những hình ảnh đẹp đẽ của trời “Đao Lỵ”, trời “Đâu Suất” – những cõi Phật xa xăm, đầy nhạc, đầy hương, đầy ánh trăng–chúng ta nhận thấy trong bài Phan Thiết, thuyết nghiệp báo và thuyết luân hồi được thi vị hóa một cách tài tình: con chim Phụng Hoàng vì Sân Si mà phải đoạn, và khi trở lại trời tu luyện thành chánh quả rồi, mà vì tập khí chưa tiêu trừ trọn vẹn, nên phải trở xuống trần gian, “nơi đã khóc đã yêu đương da diết” để mà “chôn hận nghìn thu” và “sầu muộn ngất ngư”.
Trong bài Phan Thiết, chúng ta còn nhận thấy rằng Hàn Mặc Tử đã nhìn đời bằng con mắt giác ngộ: những hiện tượng trong cõi đời này đều là những tuồng ảo hóa:
Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao,
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hoá đại điện đã rất nên tráng lệ
(Phan Thiết)
Và cõi đời này–mà Phan Thiết là tượng trưng–là nơi đau khổ, là nơi “chôn hận nghìn thu”, là nơi “sầu muộn ngất ngư”. Vì nhận biết cõi đời là giả tạo, là nơi khổ lụy, Tử đi tìm nơi giải thoát và đã tìm thấy Cực Lạc Quốc Độ của Phật A Di Đà.
Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
(Ngoài vũ trụ)
Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc
Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác
Rất phương phi trên hết cả anh hoa
(Ra đời)
Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho,
Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo
(Đêm xuân cầu nguyện)
Những “ánh sáng vô cùng” “sáng láng cả mọi miền”, những tiếng “nhạc thiêng liêng dồn trỗi khắp hư linh”, những điệu nhạc “rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác” những “cây bằng gấm và lòng sông bằng ngọc”, ở trong Tử là vang bóng của “vô lượng quang” của “thiên nhạc”, của “hoa sen đủ màu sắc và đủ hào quang mọc trong ao Thất bảo” trên thế giới Cực Lạc mà Tử đã nhìn qua kinh A Di Đà.
Tinh thần Phật giáo còn ảnh hưởng trong nhiều văn thơ của Tử, nhưng nhiều khi hoặc quá tiềm tàng, hoặc bị hình ảnh thơ lấn đi, nên chúng ta không thấy nếu chúng ta không chú ý, không lưu tâm. “Ôi trời hạo nhiên đây không phải là công trình châu báu của Người sao? Lòng vô lượng đây không phải do phép màu nhiệm của Đấng Vô Thỉ Vô Chung?” (bài tựa Xuân Như Ý). Đó chẳng phải là chữ Tâm được thi vị hóa bằng những hình ảnh tượng trưng? Hàn Mặc Tử đã xác nhận tính chất vô thỉ vô chung của Tâm (lòng vô lượng), mà biểu hiện mầu nhiệm là Mùa xuân thơm tho, trong đẹp, tràn lan khắp không gian (trời muôn trời) chen lấn vô tận hồn tạo vật, và tồn tại cùng thời gian (năm muôn năm). Nhưng vì là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, Tử đã quan niệm cái Tâm bất sanh bất diệt là Đấng Vô Thỉ Vô chung, và coi những hiện tượng do “lòng vô lượng” đã “đưa ra” kia là “công trình châu báu” của Đức Chúa Trời, nên Tử “cao rao danh Cha cả sáng”. Như thế Hàn Mặc Tử có phải là một nhà thơ của đạo Thiên Chúa? Nghĩa là Tử phải có một tín đồ dùng thơ để phụng sự tôn giáo mình? Thưa không phải. Tử tìm vào Đạo – Đạo Thiên Chúa cũng như Đạo Phật chỉ để tìm nguồn cảm hứng, để tìm nguồn an ủi khi bị tình đời phụ rẫy hoặc thể xác dày vò. Lý tưởng chính của Tử là Thơ. Tôn giáo chỉ là những yếu tố phụ vào để làm cho thơ thêm giầu sang và trọng vọng. Do đó nhiều khi bị hứng thơ lôi cuốn, Tử đã thốt ra những lời có thể gọi là “phạm thượng” đối với những Đấng Thiêng Liêng mà Tử phụng thờ. Ví dụ đương quỳ trước Thánh Nữ Maria để ca ngợi ơn cứu nạn, mà Tử dám nói:
Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ;
Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua
Thật chẳng khác nào đứng nói cùng một người ngang hàng ngang lứa hoặc Nàng Thơ! Thậm chí trong khi cầu nguyện lúc đêm xuân, mà chàng vẫn để tứ thơ ngang tàng theo hứng:
Ta chắp tay lạy quỳ hoan hảo,
Ngửa trông cao cầu nguyện trắng không gian,
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân
Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế
(Đêm xuân cầu nguyện).
Nghĩ đến những gì “giàu sang hơn Thượng Đế”, Tử biết là một tội lỗi lớn, nên tiếp đó chàng van lơn thầm nguyện:
Tôi van lơn, thánh nguyện Chúa Giêsu
Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối
Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi
Lời xưng tội vẫn không thật nghiêm trang thành kính! Trong khi viết những lời tạ tội, Tử đã nghĩ đến thơ nhiều hơn nghĩ đến Chúa, mặc dù Tử luôn luôn thờ Chúa trên thơ.
Còn đối với Đạo Phật? Hàn Mặc Tử đi vào Đạo Từ Bi không phải để tu, mà cũng không phải để tìm hiểu những gì cao siêu huyền diệu. Tử vào Đạo Từ Bi cũng như một lãng nhân vào vườn hoa nghìn hương muôn sắc. Vào không phải với mục đích của nhà vạn vật học hay nhà làm vườn, mà vào với tấm lòng con nhà nghệ sĩ khoáng đạt phong lưu. Vào để thưởng thức những cái Đẹp khác thường vừa giàu sang vừa thanh thoát. Hoa có bao nhiêu hương giống, cũng không cần biết. Vườn hoa có tự bao giờ và rộng đến đâu, cũng không cần biết nốt. Mà chỉ biết rằng có nhiều hương lạ, nhiều sắc lạ, và chỉ biết trải lòng mênh mông. Rồi những gì đã thấm vào tâm khảm thỉnh thoảng trào ra ngọn bút những lúc Thơ về, khi thì đượm đà, khi thì phảng phất, khi thì hiển hiện, khi thì ẩn tàng và tràn ra một cách tự nhiên, khiến lắm lúc nhà thơ rưởng rằng đó là do mình sáng tạo ra chớ không ngờ rằng mình đã chịu ảnh hưởng,
Và tất cả những gì đã thâu nhập được trong tôn giáo, trong Phật giáo, cũng như trong Thiên Chúa Giáo – một khi đã vào thơ Tử thì không còn giữ nguyên chất, vì đã bị tâm hồn Tử biến thể, pha trộn theo quan niệm và sở thích của mình. Tử thường nói cùng bạn rằng: “Tôi lợi dụng văn chương và triết lý nhà Phật để làm thơ mà thôi. Tôi dung hòa cả hai thể văn và tôn giáo: Thiên Chúa và nhà Phật. Đó chính là muốn làm giầu cho nền văn chương chung.”
Bởi vậy, khi đọc Hàn Mặc Tử, chúng ta nên mở tấm lòng cho rộng rãi, đừng chấp về mặt tư tưởng cũng như về mặt ngôn từ, thì mới dễ cảm động cùng con người thơ phức tạp, mới tận hưởng được tất cả những gì sâu kín ẩn khuất dưới những hàng mây ráng lung linh.
(Nha Trang, mùa xuân Tân Sửu, 1961)
Share:

NHÓM THƠ "BÀN THÀNH TỨ HỮU"

 

Cửa Đông-thành Bình Định
Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.

 Bấy lâu nay, giới văn học thường nhắc đến nhóm thơ tiền chiến của Thành Đồ Bàn (tức Bình Định xưa). Vì biết tôi là con gái của “con Lân” trong nhóm “Tứ linh”, Có người hỏi: “Thế nào là Trường thơ Bình Định? Vì sao gọi các cụ ấy là Tứ linh?…”.
Theo sự hiểu biết hạn hẹp, qua những bức thư của bác Quách Tấn gửi cho ba tôi – nhà thơ Yến Lan – tôi xin phép thông tin lại để các bạn yêu thơ hiểu thêm về cái nôi thơ mà người đời thường tâm đắc “Bình Định là đất võ mà ẩn chứa trong mình những bí ẩn về văn chương”.
Trong bức thư đề  “Nha Trang lập xuân 88”, bác Quách bức xúc viết: “Rất tiếc là không có người có đủ tài, học, tâm, chí để cùng nhau khai thác kho tàng Văn hóa của Bình Định. Tôi nhận thấy phần đông anh em làm văn nghệ vì danh, vì lợi hơn là vì bổn phận thiêng liêng. An Nhơn có nhiều nhân vật văn học và lịch sử lắm, chú và anh em văn sĩ đừng phụ cổ nhân…”.
Theo bác Quách: “Không có Trường thơ Bình Định, chỉ có Trường thơ loạn gồm: Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan. Trường thơ này không thể trở thành Trường thơ Bình Định được”.
Bình Định bấy giờ chỉ có một nhóm người mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, đặt tên là “Bàn Thành tứ hữu”. Nhóm thơ gồm có: Hàn – Chế – Yến – Quách. Bốn người này mang tên một con vật trong bộ Tứ linh. Hàn Mặc Tử là Rồng, Chế Lan Viên là Phượng, Yến Lan là Lân, Quách Tấn là Rùa.
Có câu thơ bằng tiếng Hán của Nguyễn Đức Sung:

Tấn bộ bồng lai lạc cảnh khoan

Hoan tình hội họp tứ thi lang
Trí hân khôi thỏa tâm hoài vọng
Lang phóng hương nồng nhập tiểu bang
Tạm dịch:

Tấn tới bồng lai vui cảnh tiên

Hoan tình họp mặt bốn hữu thi
Trí sáng đẹp lòng bao mong nhớ
Lan tỏa hương nồng nhập xứ men
(Ghi chú: Bốn chữ đầu của từng câu là tên của bốn nhà thơ nhắc tới trên. Hoan (Phan Ngọc Hoan) là tên thật của Chế Lan Viên, Trí (Nguyễn Trọng Trí) là tên thật của Hàn Mặc Tử).
Và người đầu tiên đưa tên của nhóm Tứ linh vào thi đàn thời bấy giờ là nhà phê bình văn học Hoài Thanh.
Còn tại sao ông Trí lấy bút danh Hàn Mặc Tử: Bút danh đầu tiên và cũng khá nổi tiếng của ông là Phong Trần. Nhưng nhiều người thấy dáng dấp thư sinh của ông nên trêu “người mảnh mai như cậu làm sao chịu đựng được phong trần, nó lại không hợp với vóc dáng của cậu”. Sau đó ông lại đổi là Hàn Mạc Tử (tức rèm lạnh).
Nhưng bác Tấn vẫn chưa chịu: “Đã có rèm thêm bóng trăng vào, hỏi còn cảnh nào nên thơ bằng”. Ông Trí ngẫm nghĩ rồi lấy bút ra vạch thêm vành trăng non vào đầu chữ A. Chỉ thêm một cái dấu mà nghĩa khác hẳn: Hàn Mạc Tử = Rèm Lạnh giờ thành Hàn Mặc Tử tức Bút Mực
Bút danh của chú Hoan ban đầu là Chế Bồng Hoan. Một hôm biết ba tôi sắp đi xuống Qui Nhơn để học, chú đến chùa Ông thăm, thấy trời tối mà ông nội tôi vẫn thắp đèn tưới cây, và ba tôi ngâm nga:

Rồi đây mỗi ngả một thân đơn

Con ngọn đèn xanh, cha mảnh vườn
Đêm lụi, đèn tàn ai gạt bấc
Vườn lan ai ấy tưới thay con.
Nghe xong chú Hoan cảm động quá nói: “Mình muốn làm một cái gì đó để kỷ niệm câu thơ của cậu”. Nghĩ một lát chú Hoan reo to: “À mình sẽ đổi bút danh thành Chế Lan Viên”. Ba tôi cũng thấy đó là ý hay nên đồng ý ngay. Và thế là từ đó trên thi đàn Việt Nam xuất hiện bút danh mới: Chế Lan Viên.
Về bút danh của ba tôi thì nhiều người biết rồi. Lúc đầu ông dùng bút danh có khi là Xuân Khai, có khi Thọ Lâm. Còn Yến Lan là tên ghép của hai giai nhân. Trong lớp ông dạy có hai cô gái trông khá xinh, chơi thân nhau, một tên là Yến, một là Lan. Họ thường thì thầm: “Tao, mày chơi thân với nhau như vầy sau này chỉ lấy một chồng”. Ba tôi nghe được thấy câu chuyện của hai người hay hay nên quyết định đổi bút danh Xuân Khai thành Yến Lan. 
Tuy xuất thân và trưởng thành từ Gò Bồi – Bình Định, nhưng nhà thơ Xuân Diệu ban đầu không nhập vào nhóm này. Bác Tấn nói vui: “Xuân Diệu đấm Hàn, thoi Yến, đá Quách, từ biệt quê hương để ra Hà Nội bắt tay với Huy Cận lập thành nhóm Huy – Xuân”.
Tại Thu Xà – Quảng Ngãi, nhà thơ Bích Khê lẻ loi, cô quạnh đành lui vào Bình Định cùng bốn chàng thi sĩ nọ lập thành nhóm Ngũ hành. Nhóm Ngũ hành tuy mới thành lập nhưng họ rất tâm đầu ý hợp. Chỉ có bác Tấn ở Nha Trang nhưng họ vẫn thường xuyên vào, ra để thăm nhau.
Ông cụ tôi tâm sự: “Bình Định là nơi phối hợp để thành quả trứng còn Nha Trang là lò ấp trứng. Tôi và các bạn đã gửi lại Nha Trang một thời tâm đắc và tuổi trẻ đam mê, làm sao quên được những ngày tháng cùng nhau học hỏi, vui chơi, nghiên cứu thơ đường, học chữ Hán”.
Một thời gian ngắn, Hàn Mặc Tử bị trọng bệnh rồi mất, ông hưởng dương 28 tuổi. Chẳng bao lâu sau Bích Khê lâm bệnh nặng (lao). Cả nhóm bàn đưa Bích Khê vào Nha Trang tìm cách nuôi nhau. Họ góp tiền thuê một nhà ở phường Củi cho Bích Khê ở.
Vì lòng tốt của bạn, được một thời gian Bích Khê lại lặng lẽ bỏ ra đi. Nhà thơ Nguyễn Đình đã tìm lại được Bích Khê. Sau khi bàn bạc kỹ, nhóm quyết định đưa ông ra Huế chữa trị và an dưỡng. Về kinh tế, tùy theo hoàn cảnh từng người mà góp tiền nuôi Bích Khê.
Chú Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ góp 10 đồng, bác Quách 20 đồng, chú Nguyễn Đình 20 đồng, vì không vướng bận gì nên ba tôi góp 30 đồng. Như vậy mỗi tháng nhà thơ Bích Khê nhận được 80 đồng, theo tôi biết đó là số tiền rất lớn, cơm tháng hồi đó chỉ có 4 đồng. Tất cả việc thu và gửi tiền ra Bệnh viện Paskiê cho chú Bích Khê đều do vợ bác Tấn đảm nhận.
Một thời gian sau ba tôi nhận được một lá thư viết bằng bút chì:
“Yến Lan
Mình rất cảm ơn cậu và các bạn đã chăm lo cho mình. Bây giờ mình không thể chịu đựng được nữa, mình đành vĩnh biệt cuộc sống, vĩnh biệt bạn bè”.
Thời gian sau, không biết năm nào nhà thơ Xuân Diệu trở về Bình Định, nhập vào nhóm Ngũ hành để thành nhóm Lục căn (Nhãn – Nhỉ – Tỷ – Thiệt – Thân – ý). Tôi không biết ai mang bí danh của những bộ phận này vì tên nhóm ít ai nhắc đến .
Trong nhóm này chú Xuân Diệu là khôn ngoan nhất, bác Quách Tấn thường trêu: “Thằng Diệu nó chẳng cho ai xem thứ gì khi chưa in thành chữ trên báo bao giờ”. Nhưng điều này bác lại cho là đúng và đó là kinh nghiệm quý báu trong sáng tác, vì thời gian sau này bác bị người khác đứng tên trong nhiều bài viết của mình!
Lâm Bích Thuỷ
Share:

VÕ NHÂN ĐẤT BÌNH ĐỊNH

 

Quách Tấn & Quách Giao


Từ lúc được thành lập phủ Hoài Nhơn rồi Quy Nhơn và thành tỉnh Bình Định, nhân dân Bình Định gồm đa số các dân Việt sống ở miền Bắc, Nghệ An, Thanh Hóa... vào sinh sống lập nghiệp. Là một miền đất mới, dân cư ngụ gồm nhiều thành phần phức tạp nên vấn đề an ninh chính trị được đặt lên hàng đầu. Chính quyền chỉ tập trung vào Phủ, Huyện sở lỵ, cho nên các vùng nông thôn, sơn cước xa xôi người dân phải sống bằng tự lực bảo vệ, tự khai phá làm ăn. Cũng vì vậy, võ thuật được trọng vọng và phát triển. Ngoài ra, do nạn đạo tặc thường thoát khỏi sự kiềm chế của chính quyền nên người dân tự học võ nghệ để tự bảo vệ gia đình và làng xóm.


Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, cả hai miền nhân dân đều khốn khổ. Một số người không thể an cư được với chúa Trịnh bèn rời bỏ quê hương vào Nam lập nghiệp. Một số lại không thích chế độ nên cũng vào Nam theo chúa Nguyễn.

Thời gian này có Khám Lý phủ Quy Nhơn là Trần Đức Hòa, rể là Đào Duy Từ và người tài được tiến cử là Nguyễn Hữu Tấn.

Rồi miền Nam có loạn thần Trương Phúc Loan chuyên quyền, nhân dân khốn khổ, nạn tham nhũng hoành hành, quan lại tham ô đầy rẫy khiến cho phong trào "áo vải cờ đào Tây Sơn" vùng lên. Thời đại Tây Sơn là đỉnh cao của võ thuật Bình Định. Tây Sơn tam kiệt, Tây Sơn thất hổ tướng, Tây Sơn ngũ phụng thư, Tây Sơn danh tướng cùng với Bình Định võ sư tam hùng làm rạng danh cho phong trào võ Bình Định.

Đối kháng với nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn Gia Miêu cũng tụ hội các anh tài Bình Định như Châu Văn Tiếp, Phạm Văn Sĩ, Lê Chất và một anh hùng người miền Nam nhưng đã ghi lại một tấm gương nghĩa khí cho người dân Bình Định: Võ Tánh.

Thời Gia Long, các danh tướng Bình Định như Phạm Văn Lý, Võ Văn Trừ vẫn vang danh ở đất Bắc; như Lê Đại Cang đã từng bình định vùng đất Cao Miên (Campuchia ngày nay).

Rồi giặc Pháp xâm lăng Việt Nam, tướng Lê Đình Lý đã anh dũng chống Pháp khi giặc vào cửa biển Đà Nẵng.

Khi phong trào Cần Vương bùng dậy, Bình Định đã có linh phong tam kiệt: Mai Xuân Thưởng, Tăng Bạt Hổ, Võ Trứ tụ hội dưới trướng trên 30 vị tướng lãnh cùng nhân dân nổi lên đánh Pháp. Phong trào bị đàn áp, người thì tuẫn tiết, xuất dương, kẻ lui về ẩn dật. Ngoại trừ Đội Chương, Voi Con đi ra Nghệ An hoạt động cách mạng.

Năm 1908, Bình Định hưởng ứng phong trào chống thuế, các võ sĩ An Vinh, An Thái đã hăng hái tham gia giúp phong trào về phần an ninh trật tự cùng trừng trị bọn tay sai thực dân.

Trong những năm bị đô hộ, các nhóm võ như An Thái, An Vinh, Thuận Truyền vẫn âm thầm luyện tập. Các tay võ như Hương mục Ngạc, Khách Bút, Hương lễ Nghè... luôn luôn được nhắc đến. Các câu tục ngữ, ca dao:

"Roi Kinh, quyền Bình Định"

"Roi Thuận Truyền, quyền An Vinh"

Và:

"Ai về Bình Định mà coi

Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền"

Luôn luôn được mọi người tâm đắc khi nói đến Bình Định.

Cuộc cách mạng tháng Tám bùng lên, người võ sĩ Bình Định lại cùng toàn dân với tầm vông vót nhọn, giáo mác mài bén, đi đầu trong phong trào chống Pháp. Vũ khí tối tân tuy làm lu mờ con người giỏi võ nhưng tinh thần thượng võ của người dân Bình Định vẫn tồn tại và rạng rỡ cùng với non sông Bình Định 

Sưu tầm.
Share:

HÀNG HIỆU GIÁ RẺ

  • HÀNG HIỆU RẺ

    Đợt khuyến mãi lớn nhất trong năm giảm giá đến 50%..

  • Ăn chay trường

    Ăn chay trường
    Xem tất cả bài viết

    ĐỒ NGỦ VÀ NỘI Y

  • ĐỒ NGỦ VÀ NỘI Y

    Đủ tất cả Sản phẩm các chuẩn loại, nhiều thương hiệu nổi tiếng, với giá cả đặc biệt..

  • Dưỡng sinh

    Dưỡng sinh
    Xem tất cả bài viết

    TÚI XÁCH NAM

  • TÚI XÁCH NAM

    Sản phẩm đa dạng mẫu mã, nhiều thương hiệu đã được người tiêu dùng tín nhiệm..

  • Đối nhân

    Đối nhân
    Xem tất cả bài viết

    MÁY LÀM THON CƠ THỂ

    Hương quê bình lâm

    Xem tất cả bài viết

    TÚI XÁCH NỮ

  • TÚI XÁCH NỮ

    Đủ các mẫu mã bạn cần, đủ các thương hiệu..

  • Kinh Địa tang

    Xem tất cả bài viết

    DỤNG CỤ TRANG ĐIỂM

    Máy tính

    Máy tính
    Xem tất cả bài viết

    KHO HÀNG GIẢM GIÁ

    Muôn màu

    Xem tất cả bài viết

    HÀNG HIỆU GIÁ RẺ

  • HÀNG HIỆU RẺ

    Đợt khuyến mãi lớn nhất trong năm giảm giá đến 50%..

  • Non nước việt

    Xem tất cả bài viết

    TÚI XÁCH NAM

  • TÚI XÁCH NAM

    Sản phẩm đa dạng mẫu mã, nhiều thương hiệu đã được người tiêu dùng tín nhiệm..

  • Quê hương

    Xem tất cả bài viết

    BẾP ĐIỆN TỪ - BẾP HỒNG NGOẠI

  • Sản phẩm đa dạng mẫu mã, nhiều thương hiệu đã được người tiêu dùng tín nhiệm..

  • Sống khỏe

    Xem tất cả bài viết

    Sữa ngũ cốc

    Xem tất cả bài viết

    Sức khỏe

    Sức khỏe
    Xem tất cả bài viết

    Tập yoga

    Xem tất cả bài viết

    Thảo dược quý

    Xem tất cả bài viết

    Thực phẩm tốt

    Xem tất cả bài viết

    Trà thảo dược

    Xem tất cả bài viết

    Tu giới

    Xem tất cả bài viết

    TỤNG KINH ĐỊA TẠNG MỖI NGÀY

    Ăn chay trường

    Xem tất cả bài viết

    TÚI XÁCH NAM

  • TÚI XÁCH NAM

    Sản phẩm đa dạng mẫu mã, nhiều thương hiệu đã được người tiêu dùng tín nhiệm..

  • Dưỡng sinh

    Xem tất cả bài viết

    Bếp điện từ - bếp hồng ngoại

  • Sản phẩm đa dạng mẫu mã, nhiều thương hiệu đã được người tiêu dùng tín nhiệm..

  • Đối nhân

    Xem tất cả bài viết

    HÀNG HIỆU GIÁ RẺ

  • HÀNG HIỆU RẺ

    Đợt khuyến mãi lớn nhất trong năm giảm giá đến 50%..

  • Hương quê bình lâm

    Xem tất cả bài viết

    TÚI XÁCH NỮ

  • TÚI XÁCH NỮ

    Đủ các mẫu mã bạn cần, đủ các thương hiệu..

  • Kinh Địa tang

    Xem tất cả bài viết

    KHO HÀNG GIẢM GIÁ

    Máy tính

    Máy tính
    Xem tất cả bài viết

    DỤNG CỤ GIẢM GIÁ

    Muôn màu

    Xem tất cả bài viết

    VIDEO

    Non nước việt

    Xem tất cả bài viết

    ĐỒ NGỦ VÀ NỘI Y

  • ĐỒ NGỦ VÀ NỘI Y

    Đủ tất cả Sản phẩm các chuẩn loại, nhiều thương hiệu nổi tiếng, với giá cả đặc biệt..

  • Quê hương

    Xem tất cả bài viết

    Sống khỏe

    Xem tất cả bài viết

    Sữa ngũ cốc

    Xem tất cả bài viết

    Sức khỏe

    Xem tất cả bài viết

    Tập yoga

    Xem tất cả bài viết

    Thảo dược quý

    Xem tất cả bài viết

    Thực Phẩm tốt

    Xem tất cả bài viết

    Trà thảo dược

    Xem tất cả bài viết

    Tu giới

    Xem tất cả bài viết